Nội dung chính
Dị tật bẩm sinh là những bất thường trên cơ thể hiện diện ngay từ lúc mới sinh ra. Dị tật bẩm sinh có thể ảnh hưởng đến ngoại hình, hoặc chức năng của cơ thể, hoặc cả hai. Đa phần dị tật bẩm sinh chỉ ở mức độ nhẹ, nhưng một số trường hợp có thể nghiêm trọng. Trẻ bị dị tật bẩm sinh có thể cần phẫu thuật hoặc điều trị thuốc.
Xét nghiệm sàng lọc là xét nghiệm có thể cung cấp thông tin về nguy cơ một phụ nữ mang thai có khả năng sinh con bị dị tật bẩm sinh. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại dị tật bẩm sinh đều có thể được sàng lọc trước sinh.
Xem thêm bài viết Những câu hỏi thường gặp về dị tật bẩm sinh của BS. Lê Thanh Nhã Uyên
Xét nghiệm sàng lọc nên được thực hiện ở tất cả các phụ nữ mang thai nhằm đánh giá nguy cơ sinh con bị dị tật bẩm sinh hoặc bệnh lý di truyền. Nếu kết quả sàng lọc cho thấy có nguy cơ cao sinh con bị dị tật, trong bước kế tiếp, một số xét nghiệm khác sẽ được đề nghị để chẩn đoán xác định dị tật.
Kết quả xét nghiệm sàng lọc chỉ có giá trị cảnh báo nguy cơ mắc một loại dị tật bẩm sinh là cao hay thấp chứ không có giá trị chẩn đoán. Chính vì vậy, trong một số trường hợp trẻ sinh ra vẫn bình thường dù mẹ có kết quả sàng lọc có nguy cơ cao và ngược lại, trong một số ít trường hợp dù mẹ có nguy cơ thấp nhưng vẫn sinh con bị dị tật bẩm sinh.
Xem thêm bài viết Chẩn đoán tiền sản: chọc ối và sinh thiết gai nhau
Xét nghiệm sàng lọc trong quý I của thai kỳ bao gồm xét nghiệm máu và siêu âm. Những xét nghiệm này có thể thực hiện kết hợp đồng thời hoặc theo quy trình từng bước một. Một số phụ nữ có thể không cần những xét nghiệm khác sâu hơn.
Sàng lọc trong quý I được thực hiện từ tuần thứ 11 đến tuần thứ 14 của thai kỳ, nhằm đánh giá nguy cơ sinh con bị hội chứng Down và hội chứng tam nhiễm sắc thể 18 bằng cách đo nồng độ của hai chất sau trong máu mẹ:
Cũng trong giai đoạn này, sản phụ sẽ được siêu âm để đo độ mờ da gáy của thai nhi, xét nghiệm này nhằm đo độ dày phần gáy của thai. Nếu có sự gia tăng về chỉ số này thì thai sẽ có nguy cơ cao mắc hội chứng Down, hội chứng tam nhiễm sắc thể 18 và một số bệnh di truyền liên quan nhiễm sắc thể khác.
Trong sàng lọc quý I của thai kỳ, kết quả đo độ mờ da gáy, cùng với kết quả xét nghiệm máu và tuổi mẹ sẽ được dùng để đánh giá nguy cơ mắc dị tật của thai nhi. Sự kết hợp những xét nghiệm sàng lọc này giúp phát hiện 82 – 87% trường hợp mắc bệnh Down. Khi độ mờ da gáy tăng, thai nhi có khả năng mắc bệnh tim bẩm sinh hoặc những bệnh lý di truyền khác. Trong trường hợp này, bác sĩ sẽ có thể đề nghị siêu âm kiểm tra chi tiết hơn vào tuần thứ 20 của thai kỳ.
Trong quý II của thai kỳ, một xét nghiệm được gọi là “sàng lọc đa chất chỉ điểm” (multiple marker screening) được đề nghị nhằm sàng lọc hội chứng Down, hội chứng tam nhiễm sắc thể 18 và khuyết tật ống thần kinh. Xét nghiệm này sẽ đo nồng độ 3 hoặc 4 chất sau trong máu mẹ, gồm:
Bộ xét nghiệm này được gọi là sàng lọc bộ ba (triple screen) nếu chỉ đo nồng độ 3 chất đầu tiên kể trên (AFP, Estriol, hCG), hoặc được gọi là sàng lọc bộ bốn (quadruple screen) nếu đo nồng độ của cả 4 chất. Xét nghiệm sàng lọc bộ ba giúp phát hiện hội chứng Down trong 69% trường hợp, trong khi xét nghiệm sàng lọc bộ bốn giúp phát hiện đến 81% trường hợp. Xét nghiệm AFP giúp phát hiện các khuyết tật ống thần kinh trong 80% trường hợp. Những xét nghiệm này thường được thực hiện trong khoảng từ tuần thứ 15-20 của thai kỳ. Thời điểm tiến hành xét nghiệm sàng lọc có vai trò rất quan trọng trong đánh giá nguy cơ vì nồng độ các chất này thay đổi theo thời gian mang thai.
Tại Việt Nam, thường chỉ áp dung sàng lọc bộ ba (tripple test) cho những người chưa thực hiện sàng lọc ở quý I của thai kỳ.
Kết quả xét nghiệm được thực hiện trong quý I và quý II của thai kỳ có thể được kết hợp với nhau để tăng khả năng phát hiện hội chứng Down. Khả năng phát hiện hội chứng Down lên đến 95% nếu hai xét nghiệm này được kết hợp với nhau. Tuy nhiên, nếu sàng lọc kết hợp, kết quả đưa ra cuối cùng sẽ chậm vì chỉ có thể kết luận sau khi đã hoàn thành tất cả các xét nghiệm.
Hiện nay, ở Việt Nam không thực hiện mô hình sàng lọc kết hợp.
Nếu kết quả của xét nghiệm sàng lọc hoặc những yếu tố khác làm tăng mối lo ngại đối với thai nhi, những xét nghiệm chẩn đoán sẽ được đề nghị nhằm cung cấp thêm nhiều thông tin hơn. Xét nghiệm chẩn đoán bao gồm:
Xem thêm bài viết Xét nghiệm chẩn đoán di truyền trước sinh
http://www.acog.org/~/media/For%20Patients/faq165.pdf?dmc=1&ts=20131228T0515046227
Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…
Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…
Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…
Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…
Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…