Viêm màng ối
Nội dung chính
Biên dịch: Nguyễn Hoàng Oanh
Hiệu đính: BS. Thiều Đình Hoàng
Viêm màng ối (Chorioamnionitis-còn được gọi là “triple I” (bộ ba I): phản ứng viêm hoặc nhiễm trùng tử cung hoặc cả hai) là một biến chứng trong thai kỳ do nhiễm khuẩn hoặc phản ứng viêm của màng ối và màng đệm.
Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng đặc trưng của viêm màng ối bao gồm:
Hội thảo NICHD khuyến cáo sử dụng thuật ngữ “bộ ba I” để giải thích tính không đồng nhất của bệnh này. Thuật ngữ “bộ ba I” dùng để chỉ sự nhiễm trùng hoặc viêm tử cung hoặc cả hai, và được chẩn đoán bằng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt; tuy nhiên, thuật ngữ này không được chấp thuận rộng rãi. Việc phân biệt giữa viêm màng ối thể lâm sàng và mô học là rất cần thiết; thể viêm màng ối mô học thường có xu hướng “im lặng” và chỉ được phát hiện khi gây ra hậu quả là chuyển dạ sinh non hoặc ối vỡ non (PPROM). Nguy cơ nhiễm trùng sơ sinh tăng lên khi mẹ được chẩn đoán viêm màng ối trong chuyển dạ; tuy nhiên, nguy cơ này giảm đáng kể so với với thời kỳ trước đây khi việc sử dụng kháng sinh trong chuyển dạ chưa phổ biến.
Chẩn đoán viêm màng ối thường dựa trên thăm khám lâm sàng với những dấu hiệu như sốt, tim thai nhanh, bạch cầu máu mẹ tăng hay dịch mủ từ lỗ cổ tử cung. Ngoài ra, thai phụ bị viêm màng ối có thể có biểu hiện mệt mỏi, nhiễm trùng nhiễm độc, tụt huyết áp, vã mồ hôi và/hoặc da lạnh, ẩm. Tuy nhiên, đối với viêm màng ối thể mô học, có thể không có các dấu hiệu và triệu chứng nhiễm trùng (hay còn gọi là viêm màng ối im lặng).
Hơn nữa, triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng của viêm màng ối không phải lúc nào cũng có liên quan đến bằng chứng có viêm nhau thai đi kèm. Điều này đặc biệt đúng nếu chỉ dùng dấu hiệu mẹ sốt để chẩn đoán.
Các dấu hiệu lâm sàng khi thăm khám trẻ sơ sinh nghi ngờ nhiễm trùng huyết được sinh ra từ mẹ bị viêm màng ối thường mơ hồ và không đặc hiệu, có thể bao gồm:
Trong chuyển dạ, chẩn đoán viêm màng ối thường dựa trên lâm sàng, đặc biệt đối với thai đủ tháng.
Các xét nghiệm cần làm đối với thai phụ không triệu chứng nhưng có biểu hiện chuyển dạ sinh non hoặc ối vỡ non gồm:
Xét nghiệm ở thai phụ sốt, nghi ngờ có viêm màng ối:
Các cận lâm sàng dùng để đánh giá nước ối và dịch tiết niệu sinh dục, gồm:
Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết khởi phát sớm, viêm phổi, hoặc viêm màng não ở trẻ sơ sinh là khi cấy bệnh phẩm thích hợp (như máu, dịch tiết khí quản, dịch não tủy) và có vi khuẩn mọc. Các xét nghiệm sàng lọc nhiễm trùng sơ sinh bao gồm WBC và CRP.
Các xét nghiệm khác có thể được sử dụng để chẩn đoán nhiễm trùng sơ sinh khởi phát sớm bao gồm:
Khi thai chưa thấy được trên siêu âm, siêu âm qua ngã âm đạo có thể được sử dụng để xác định những phụ nữ có kênh cổ tử cung ngắn. Kênh cổ tử cung ngắn làm tăng nguy cơ sinh non.
Siêu âm bụng cũng có thể được sử dụng để xác định tình trạng khỏe mạnh của thai nhi, cũng như phân tích trắc đồ sinh vật lý (BPP).
Các thủ thuật có thể được sử dụng để đánh giá khi nghi ngờ viêm màng ối hoặc nhiễm trùng huyết khởi phát sớm ở trẻ sơ sinh (EOS):
Điều trị cho bà mẹ và/hoặc trẻ sơ sinh bị viêm màng ối bao gồm khởi phát chuyển dạ sớm, chăm sóc hỗ trợ và sử dụng kháng sinh.
Thuốc kháng sinh được sử dụng trong điều trị viêm màng ối bao gồm:
Chăm sóc hỗ trợ trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng có thể bao gồm:
Có thể chỉ định mổ lấy thai để đẩy nhanh quá trình sinh.
Mặc dù trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng khởi phát sớm thường không có chỉ định can thiệp phẫu thuật, ngoài trừ các trường hợp sau đây:
Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…
Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…
Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…
Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…
Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…