Nội dung chính
Biên dịch: BS. Đặng Thị Tâm
Hiệu đính: ThS. BS. Nguyễn Văn Tuy
Tiêu chảy là một tình trạng phổ biến khi phân trở nên lỏng hoặc nước và nhiều lần hơn so với bình thường. Một người có thể có co thắt hoặc mất kiểm soát nhu động ruột. Thường thường, tiêu chảy có thể được định nghĩa khi đi cầu hơn 3 lần phân lỏng trong vòng 24 giờ.
Tiêu chảy là một tác dụng phụ phổ biến trong ung thư trẻ em. Nó có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm hóa trị, kháng sinh, và nhiễm trùng. Trong vài trường hợp, tiêu chảy có thể dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng như mất nước, suy dinh dưỡng, và mất cân bằng chuyển hóa.
Cách để điều trị tiêu chảy bao gồm thuốc chống tiêu chảy và thay đổi khẩu phần ăn. Điều quan trọng nữa là chắc chắn bệnh nhân không bị mất nước bằng cách cho uống thêm dịch hoặc truyền dịch tĩnh mạch. Nếu tiêu chảy do virus hoặc vi khuẩn thì cần phải điều trị nhiễm trùng. Nếu tiêu chảy do hóa trị, bác sĩ có thể điều chỉnh liệu trình điều trị cho tới khi triệu chứng cải thiện.
Những nguyên nhân gây tiêu chảy trong quá trình điều trị ung thư
Đánh giá tiêu chảy:
Nhóm chăm sóc sẽ đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng khác như:
Các xét nghiệm máu được thực hiện để kiểm tra công thức máu, điện giải đồ và chức năng thận.
Phân có thể được xét nghiệm để tìm virus hoặc vi khuẩn. Các nguồn lây nhiễm tiêu chảy phổ biến là rotavirus, adenovirus, norovirus, Salmonella, Campylobacter, Shigella và Clostridioides difficile. Tiêu chảy do nhiễm trùng có thể cần được điều trị khác nhau.
Đội ngũ chăm sóc cũng sẽ đánh giá các lý do khác có thể gây ra tiêu chảy như thuốc, chế độ ăn và các yếu tố kích thích.
Ít gặp hơn, đánh giá tiêu chảy có thể bao gồm các xét nghiệm về hình ảnh các cơ quan của đường tiêu hóa.
Tiêu chảy và táo bón là những vấn đề phổ biến trong quá trình điều trị ung thư. Đội ngũ chăm sóc cần phải yêu cầu các gia đình sử dụng biểu đồ để mô tả phân.
Tiêu chảy có thể đe dọa tính mạng. Các vấn đề sức khỏe có thể do tiêu chảy bao gồm:
Trong một số trường hợp, hóa trị và các phương pháp điều trị ung thư khác có thể bị trì hoãn cho đến khi các triệu chứng được cải thiện
Chất dinh dưỡng và nước được hấp thụ khi thức ăn di chuyển qua đường tiêu hóa. Chất thải được tống ra khỏi cơ thể dưới dạng phân. Ruột tiết ra dịch tiêu hóa và chất nhầy để giúp phá vỡ và di chuyển chúng. Vi khuẩn cũng được tìm thấy trong đường tiêu hóa và giúp phá vỡ thức ăn. Đôi khi, phân trở nên quá nhiều nước nếu chất lỏng không được hấp thu hoặc nếu dịch tiết tăng.
Thuốc cũng có thể thay đổi sự cân bằng của vi khuẩn trong ruột. Sự gia tăng nhu động ruột cũng có thể làm phân đi qua nhanh hơn. Một sự thay đổi hoặc mất cân bằng trong một hoặc nhiều quá trình tiêu hóa này có thể gây ra tiêu chảy ..
Các yếu tố có thể dẫn đến tiêu chảy trong điều trị ung thư bao gồm:
Tiêu chảy là một tác dụng phụ phổ biến của hóa trị. Điều này đôi khi được gọi là tiêu chảy do hóa trị. Hóa trị có thể gây tiêu chảy theo những cách khác nhau. Hóa trị có thể gây tổn thương màng nhầy. Một số loại thuốc cũng có thể thay đổi sự cân bằng chất lỏng trong ruột. Chất lỏng có thể không được hấp thụ đúng cách, chất lỏng hoặc chất nhầy có thể được tiết ra thêm. Hóa trị cũng có thể cản trở sự hấp thụ các chất dinh dưỡng hoặc thay đổi cách thức hoạt động của các enzyme tiêu hóa trong ruột.
Đối với trẻ em bị ung thư, các loại thuốc điều trị ung thư thường gây tiêu chảy bao gồm irinotecan, docetaxel, fluorouracil, dasatinib, imatinib, pazopanib, sorafenib và sunitinib.
| Thuốc điều trị ung thư có nguy cơ cao gây tiêu chảy | Thuốc điều trị ung thư có nguy cơ trung bình gây tiêu chảy |
| Busulfan | Cyclophosphamide |
| Capecitabine | Daunorubicin |
| Dasatinib | Etoposide |
| Docetaxel | Interferon |
| Fluorouracil (5-FU) | Melphalan |
| Idarubicin | Methotrexate |
| Imatinib | Nivolumab |
| Irinotecan | Paclitaxel |
| Mycophenolate | Topotecan |
| Pazopanib | Vincristine |
| Sorafenib | |
| Sunitinib |
Đọc thêm về hóa trị và niêm mạc.
Tiêu chảy có thể là tác dụng phụ của các loại thuốc phổ biến khác được sử dụng ở bệnh nhân ung thư trẻ em. Điều này có thể xảy ra vì những lý do khác nhau. Một số loại thuốc gây ra sự mất cân bằng của vi khuẩn “tốt” và “xấu” trong dạ dày và ruột. Các loại thuốc khác có thể ảnh hưởng đến sự phân hủy thức ăn hoặc lượng chất lỏng được hấp thụ hoặc sản xuất.
Các loại thuốc có thể gây tiêu chảy bao gồm kháng sinh như ampicillin, amoxicillin, amoxicillin-clavulanate, cefixime, cefpodoxime, clindamycin và erythromycin. Chất làm mềm phân, thuốc nhuận tràng, thuốc kháng axit với magiê, kali clorua và thuốc ức chế bơm proton cũng có thể gây tiêu chảy.
Xạ trị vào bụng, lưng hoặc xương chậu có thể gây tiêu chảy. Xạ trị kích hoạt sự chết tế bào của các tế bào phát triển nhanh, giống như các tế bào nếp gấp thành ruột. Điều này được gọi là viêm ruột phóng xạ. Các triệu chứng bao gồm buồn nôn, nôn, chuột rút, mệt mỏi và tiêu chảy. Phân có thể có nước hoặc máu hoặc chất nhầy. Viêm ruột phóng xạ thường cải thiện 2-3 tuần sau khi kết thúc điều trị, nhưng các triệu chứng có thể kéo dài 12 tuần hoặc lâu hơn. Một số bệnh nhân có thể bị tiêu chảy kéo dài hơn hoặc gặp vấn đề với tiêu chảy sau này trong cuộc sống
Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy khi xạ trị bao gồm:
Điều trị tiêu chảy do xạ trị bao gồm sử dụng các loại thuốc như loperamid và octreotide.
Clostridioides difficile (Clostridium difficile, C. difficile hoặc C. diff) là một loại vi khuẩn có thể gây tiêu chảy nghiêm trọng. Nhiễm C. diff thường xảy ra do tác dụng phụ của thuốc kháng sinh. Thuốc kháng sinh có thể làm thay đổi sự cân bằng của vi khuẩn “tốt” và “xấu” của đường ruột. Khi C. diff nhân lên, độc tố được giải phóng làm tổn thương niêm mạc ruột. Các triệu chứng của nhiễm C. diff bao gồm tiêu chảy, sốt, buồn nôn, chán ăn và đau bụng. Các xét nghiệm phân được sử dụng để chẩn đoán nhiễm trùng. Phương pháp điều trị bao gồm ngừng kháng sinh liên quan đến nhiễm trùng và sử dụng một loại kháng sinh như vancomycin hoặc metronidazole để điều trị nhiễm trùng.
C. diff có thể lây lan qua tiếp xúc. Đảm bảo rửa tay và làm sạch các khu vực bề mặt kỹ lưỡng để giúp ngăn ngừa sự lây lan của C. diff. Bệnh nhân ở lại lâu dài trong bệnh viện, hệ thống miễn dịch yếu hoặc nhiễm C. diff trước đó có nguy cơ cao nhất.
Bệnh nhân nhập viện với nhiễm C. diff sẽ có biện pháp phòng ngừa tiếp xúc. Tất cả mọi người (gia đình, thành viên đội ngũ chăm sóc và người thăm bệnh) phải rửa tay khi vào và ra khỏi phòng, và các thành viên của đội chăm sóc sẽ mặc áo choàng và găng tay khi ở trong phòng. Điều này giúp ngăn ngừa sự lây lan của nhiễm trùng cho các bệnh nhân khác.
Tiêu chảy là một triệu chứng thường thấy ở bệnh nhân bệnh mảnh ghép chống vật chủ (Graft Versus Host Disease – GVHD). GVHD là một biến chứng đôi khi xảy ra sau khi ghép tế bào gốc dị ghép (ghép tế bào tạo máu). Phản ứng miễn dịch cơ thể sau khi ghép có thể làm tổn thương đường tiêu hóa (GI). Các triệu chứng thường gặp bao gồm tiêu chảy và đau bụng. Phân có thể xuất hiện màu xanh lá cây, có nước và máu, chất nhầy hoặc mô. Điều trị tiêu chảy liên quan đến GVHD bao gồm sử dụng các loại thuốc corticosteroid như budesonide hoặc beclomethasone được thiết kế để chỉ hoạt động trong đường tiêu hóa.
Tiêu chảy có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt là trong ung thư. Điều quan trọng là các gia đình phải hợp tác chặt chẽ với đội ngũ chăm sóc để đảm bảo rằng các triệu chứng của trẻ được kiểm soát. Các chiến lược giúp điều trị tiêu chảy bao gồm thuốc chống tiêu chảy và thay đổi chế độ ăn uống. Bổ sung dịch đầy đủ là cần thiết để tránh mất nước. Nếu tiêu chảy nghiêm trọng hoặc bệnh nhân không thể bổ sung dịch bằng đường uống, có thể cần truyền dịch tĩnh mạch (IV).
Thuốc trị tiêu chảy được kê đơn dựa trên mức độ nghiêm trọng của tiêu chảy và nguyên nhân nghi ngờ hoặc đã biết. Các loại thuốc có thể điều trị tiêu chảy ở trẻ em bị ung thư bao gồm loperamid (Imodium®) và kháng sinh. Trong trường hợp đặc biệt, atropine và octreotide có thể được sử dụng để điều trị một số loại tiêu chảy.
Men vi sinh có thể được khuyến cáo trong một số trường hợp. Tuy nhiên, trẻ em ung thư chỉ nên sử dụng bổ sung men vi sinh dưới sự giám sát của bác sĩ.
Điều trị tiêu chảy dựa trên nhu cầu của từng bệnh nhân và đội ngũ chăm sóc sẽ quyết định phương pháp tốt nhất cho từng bệnh nhân
Để giúp tiêu chảy, đội ngũ chăm sóc có thể đề nghị thay đổi chế độ ăn uống bao gồm chia nhỏ bữa ăn, thức ăn lỏng và chất lỏng không chứa caffeine. Chế độ ăn BRAT (chuối, cơm, táo và bánh mì nướng) đôi khi được khuyến nghị cho bệnh nhân bị tiêu chảy. Tuy nhiên, chế độ ăn kiêng này có ít chất dinh dưỡng quan trọng, vì vậy chỉ nên thực hiện trong vài ngày hoặc theo khuyến nghị của đội ngũ chăm sóc. Các loại thực phẩm khác có thể được khuyến nghị bao gồm yến mạch, ngũ cốc ít đường, bánh quy giòn, mì ống không có nước sốt và trái cây mềm, bóc vỏ như đào hoặc lê. Súp dựa trên nước dùng với rau nấu chín và thịt nạc có thể là một cách tốt để khởi động lại thức ăn rắn và tăng lượng chất lỏng.
Một số thực phẩm có thể làm cho tiêu chảy nặng hơn. Chúng bao gồm thực phẩm cay hoặc dầu mỡ, sữa và các sản phẩm từ sữa, trái cây và rau sống, trái cây sấy khô, một số loại nước ép trái cây, thực phẩm giàu chất béo hoặc đường, và caffeine.
Nếu tiêu chảy là do bệnh thải ghép tế bào gốc, chế độ ăn uống đặc biệt có thể bị giới hạn hơn.
Tìm kiếm nhiều hơn các lời khuyên về dinh dưỡng hạn chế các tác dụng phụ
https://together.stjude.org/en-us/diagnosis-treatment/side-effects/diarrhea.html
Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…
Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…
Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…
Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…
Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…