Nội dung chính
Xét nghiệm Pap, còn gọi là sàng lọc tế bào cổ tử cung, là xét nghiệm giúp kiểm tra những thay đổi bất thường trong các tế bào của cổ tử cung nhằm điều trị sớm để tế bào bất thường không trở thành ung thư.
Xét nghiệm Pap
Nguyên nhân chính của kết quả xét nghiệm Pap bất thường là nhiễm virút u nhú ở người (HPV). Có nhiều loại HPV. Một số loại có liên quan đến ung thư cổ tử cung, âm hộ và âm đạo. Loại khác có liên quan đến mụn cóc sinh dục hay còn gọi là sùi mào gà.
Tất cả những thuật ngữ này được sử dụng để mô tả những thay đổi tiền ung thư ở cổ tử cung xảy ra do nhiễm HPV, nhưng chúng được sử dụng trong các tình huống khác nhau.
Chứng loạn sản và ung thư cổ tử cung trong biểu mô (CIN) mô tả những thay đổi thực tế xảy ra ở cổ tử cung. Loạn sản và ung thư cổ tử cung trong biểu mô (CIN) được phân loại thành loạn sản nhẹ, trung bình hoặc nặng. Loạn sản nhẹ (CIN 1) thường tự hết. Loạn sản nhẹ cấp độ 2 (CIN 2) và loạn sản nặng (CIN 3) có những thay đổi nghiêm trọng hơn.
“Tổn thương biểu mô vảy” là một thuật ngữ được sử dụng trong hệ thống Bethesda cho sự phát triển bất thường của các tế bào trên bề mặt cổ tử cung. “Vảy” đề cập đến các loại tế bào bao bọc cổ tử cung.
Hệ thống Bethesda là một danh sách các thuật ngữ được sử dụng bởi các phòng thí nghiệm để mô tả kết quả xét nghiệm Pap. Với hệ thống Bethesda, xét nghiệm Pap của bạn có thể xếp vào một trong các nhóm sau:
LSIL là loạn sản nhẹ hoặc trung bình (CIN 1 và CIN 2). Nó hầu như luôn luôn chỉ ra sự hiện diện của HPV nhưng nó cũng có thể chỉ ra những thay đổi tiền ung thư nhẹ. LSIL rất phổ biến và thường tự khỏi mà không cần điều trị.
HSIL là loạn sản nặng hoặc CIN 3 hoặc ung thư biểu mô tại chỗ (CIS). Kết quả này rất có thể tiến triển thành ung thư.
Nếu bạn được báo kết quả xét nghiệm Pap bất thường, bác sĩ có thể cho bạn làm thêm các xét nghiệm khác, tùy thuộc vào tuổi và mức độ loạn sản tế bào cổ tử cung của bạn (xem bảng dưới đây). Đôi khi, có thể phải làm thêm hơn một xét nghiệm. Bác sĩ sẽ thảo luận với bạn về mỗi xét nghiệm và cùng bạn quyết định xem cái nào là tốt nhất cho bạn.
Sử dụng bảng này, đầu tiên tìm kết quả của bạn ở cột bên trái của bảng. Sau đó, tìm độ tuổi hoặc tình trạng sinh sản tương ứng của bạn ở dòng đầu bảng.
Bảng theo dõi kiểm tra cho kết quả bất thường của xét nghiệm Pap
Chữ viết tắt: ASC-US: các tế bào vảy không điển hình có ý nghĩa không xác định; LSIL: loạn sản nhẹ hoặc trung bình; HSIL: loạn sản nặng; ASC-H: các tế bào vảy không điển hình, không thể loại trừ HSIL; AGC: các tế bào tuyến không điển hình; HPV: virus gây u nhú ở người; Phương pháp đốt điện cắt bỏ vòng lặp.
Soi cổ tử cung cho phép bác sĩ nhìn vào cổ tử cung một cách chi tiết hơn thông qua một thiết bị phóng đại. Nó có thể phát hiện các vấn đề của cổ tử cung mà không thể nhìn thấy được bằng mắt.
Xem thêm bài viết Soi cổ tử cung của Nguyễn Thị Thanh Phương
Trong thử nghiệm này, một bàn chải nhỏ hoặc các công cụ khác được sử dụng để lấy mẫu mô từ kênh cổ tử cung.
Trong thử nghiệm này, người ta sẽ lấy một mẫu nội mạc tử cung (lớp lót tử cung) để kiểm tra. Một số phụ nữ có kết quả AGC (tế bào tuyến không điển hình) cần phải tiến hành xét nghiệm này để kiểm tra theo dõi.
Một số kỹ thuật được sử dụng để điều trị CIN. Phương pháp điều trị tùy phụ thuộc vào tuổi của bạn và loại kết quả xét nghiệm Pap:
Bạn cũng cần phải theo dõi kiểm tra sau điều trị. Trong quá trình theo dõi đó, bác sĩ có thể cho bạn kiểm tra xét nghiệm Pap lặp lại mỗi 6 tháng đến 12 tháng hoặc kiểm tra HPV. Bạn cũng nên xét nghiệm Pap thường xuyên sau đó.
Xem thêm bài viết Ung thư cổ tử cung và cách phòng ngừa của BS. Phạm Thanh Hoàng
Sinh thiết: Loại bỏ một mẫu mô nhỏ sau đó kiểm tra dưới kính hiển vi trong phòng thí nghiệm.
Tân sinh biểu mô cổ tử cung (CIN): Một thuật ngữ khác cho chứng loạn sản; đây là tình trạng không phải ung thư mà xảy ra khi các tế bào bình thường trên bề mặt cổ tử cung được thay thế bởi một lớp tế bào bất thường. CIN được xếp loại như loại 1 (loạn sản nhẹ), 2 (loạn sản trung bình) hoặc 3 (loạn sản nặng hoặc ung thư biểu mô tại chỗ).
Cổ tử cung: Phần mở của tử cung ở phía trên của âm đạo.
Soi cổ tử cung: Quan sát cổ tử cung, âm hộ hoặc âm đạo với độ phóng đại bằng cách sử dụng một dụng cụ gọi là soi cổ tử cung.
Loạn sản: Một tình trạng không phải ung thư, xảy ra khi tế bào bình thường được thay thế bằng một lớp tế bào bất thường.
Gây mê toàn thân: Việc sử dụng các loại thuốc để tạo một trạng thái như đang ngủ để ngăn chặn cơn đau trong khi phẫu thuật.
Human Papillomavirus (HPV): Tên cho một nhóm vi rút gây nên những thay đổi cổ tử cung và ung thư cổ tử cung.
Gây mê cục bộ: Việc sử dụng các loại thuốc ngăn chặn cơn đau ở một phần của cơ thể.
Cắt bỏ bằng vòng đốt điện (LEEP): Việc loại bỏ các mô bất thường (cổ tử cung, âm đạo hay âm hộ) sử dụng một vòng dây mỏng và năng lượng điện.
Pap Test: Một xét nghiệm trong đó các tế bào được lấy từ cổ tử cung và âm đạo, sau đó được kiểm tra dưới kính hiển vi.
Tổn thương biểu mô vảy (SIL): Thuật ngữ được sử dụng trong kết quả xét nghiệm Pap trong trường hợp các tế bào trên bề mặt của cổ tử cung phát triển bất thường.
Âm hộ: Khu vực bên ngoài của bộ phận sinh dục nữ.
Tài liệu tham khảo
Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…
Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…
Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…
Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…
Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…