U nguyên bào thần kinh ở trẻ em: Giai đoạn và phân nhóm
Nội dung chính
TRÊN TRANG NÀY: Bạn sẽ tìm hiểu về cách các bác sĩ mô tả sự tăng trưởng và xâm lấn của u nguyên bào thần kinh, hay còn gọi là giai đoạn. Sử dụng menu để xem các trang khác.
Giai đoạn là một cách mô tả ung thư, như vị trí khối u ở đâu, có xâm lấn ở đâu không và liệu có ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể không. Bác sĩ sử dụng các xét nghiệm chẩn đoán để đánh giá giai đoạn ung thư, do đó đánh giá giai đoạn có thể không hoàn chỉnh cho đến khi hoàn thành tất cả các xét nghiệm.
Kiến thức về giai đoạn ung thư giúp các bác sĩ quyết định phương thức điều trị tốt nhất và giúp tiên lượng cho bệnh nhân về cơ hội hồi phục. Có nhiều cách mô tả giai đoạn khác nhau cho mỗi loại ung thư. Một khi đã chẩn đoán xác định u nguyên bào thần kinh, mức độ tăng trưởng và xâm lấn sẽ được đánh giá hoặc phân giai đoạn. Giai đoạn của khối u giúp cho bác sĩ lên kế hoạch điều trị.
INSS là một hệ thống phân giai đoạn phẫu thuật/ bệnh học được phát triển năm 1988, là hệ thống phân loại quốc tế đầu tiền về u nguyên bào thần kinh được chấp thuận. Năm 2009, Hiệp hội U nguyên bào thần kinh Quốc tế theo nhóm nguy cơ (International Neuroblastoma Risk Group Task Force – INRG Task Force) đã đề xuất một hệ thống phân loại mới (INRGSS) dựa trên hình ảnh học. Mỗi giai đoạn được mô tả dưới đây đều kèm lời giải thích về nhóm nguy cơ.
Sau đây là những tóm tắt ngắn gọn về mỗi giai đoạn theo INSS:
Giai đoạn 1: Khối u có thể được loại bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật. Các hạch bạch huyết gắn liền với khối u được nạo vét cùng lúc có thể có tế bào ung thư, nhưng các hạch bạch huyết lân cận không chứa tế bào ung thư.
Giai đoạn 2A: Khối u còn khu trú ở vị trí ban đầu và không thể loại bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật. Các hạch bạch huyết lân cận không chứa tế bào ung thư.
Giai đoạn 2B: Khối u còn khu trú ở vị trí ban đầu, có hoặc không thể loại bỏ hoàn toàn bằng phẫu thuật, nhưng hạch bạch huyết lân cận có chứa tế bào ung thư.
Giai đoạn 3: Khối u không thể loại bỏ bằng phẫu thuật. Bệnh đã di căn đến hạch vùng (các hạch bạch huyết gần khối u) hoặc vị trí khác gần khối u, nhưng không di căn tới bộ phận khác của cơ thế.
Giai đoạn 4: Khối u ban đầu di căn đến các hạch bạch huyết xa (hạch bạch huyết ở những vùng khác của cơ thể), xương, tủy xương, gan, da và hoặc những cơ quan khác, ngoại trừ những vị trí ở giai đoạn 4S dưới đây.
Giai đoạn 4S: Khối u ban đầu còn khu trú ở vị trí nguyên phát (giai đoạn 1, 2A hoặc 2B), và chỉ di căn đến da, gan và hoặc tủy xương ở trẻ nhỏ dưới một tuổi. Sự di căn vào tủy xương là rất ít, thường ít hơn 10% tế bào được mang đi kiểm tra.
Không giống như INSS đã nêu bên trên, INRGSS chỉ sử dụng chẩn đoán hình ảnh chụp trước phẫu thuật. Cách phân định này không bao gồm kết quả phẫu thuật hay mức độ di căn đến các hạch bạch huyết để quyết định giai đoạn. Thông tin về sự xuất hiện các yếu tố nguy cơ trên chẩn đoán hình ảnh là bắt buộc đối với cách phân giai đoạn này.
Giai đoạn L1: Khối u còn khu trú ở vị trí ban đầu; không thấy yếu tố nguy cơ trên hình ảnh cắt lớp như CT hoặc MRI.
Giai đoạn L2: Khối u chưa di căn ra ngoài khu vực ban đầu và mô lân cận; xuất hiện yếu tố nguy cơ trên hình ảnh cắt lớp như CT hoặc MRI.
Giai đoạn M: Khối u di căn đến những bộ phận khác của cơ thể (ngoại trừ giai đoạn MS, xem dưới đây).
Giai đoạn MS: Khối u chỉ di căn đến da, gan và hoặc tủy xương (ít hơn 10% tế bào tủy xương) ở bệnh nhân dưới 18 tháng tuổi.
U nguyên bào thần kinh tiến triển và đáp ứng điều trị khác nhau tùy từng bệnh nhân, còn được gọi là đặc tính lâm sàng của bệnh. Một số trẻ được chữa khỏi bằng phẫu thuật đơn thuần hoặc phẫu thuật kèm hóa trị (xem Các phương pháp điều trị). Số còn lại bệnh tiến triển nặng nên đề kháng với điều trị và khó chữa. Bằng việc kết hợp nhiều yếu tố, bác sĩ thường có thể dự đoán khối u sẽ tiến triển trên lâm sàng như thế nào và đưa ra điều trị thích hợp.
Trong hệ thống phân loại theo INRG, sự kết hợp giữa lâm sàng, giải phẫu bệnh và các dấu ấn di truyền được sử dụng để dự đoán đặc tính lâm sàng của khối u và cách nó đáp ứng với điều trị. Các thông số dưới đây được sử dụng để xác định mức độ nguy cơ mà u nguyên bào thần kinh được phân thành 4 loại: nguy cơ rất thấp, nguy cơ thấp, nguy cơ trung bình và nguy cơ cao.
Hiệp hội Ung thư trẻ em (The Children’s Oncology Group – COG) hiện đang sử dụng những yếu tố dưới đây để phân tầng nguy cơ, nhưng sẽ sử dụng định nghĩa của INRG trong các nghiên cứu sau này:
Mô tả u nguyên bào thần kinh nguy cơ thấp, nguy cơ trung bình hay nguy cơ cao hiện tại dựa trên định nghĩa của Hiệp hội Ung thư trẻ em được liệt kê bên dưới. Hệ thống phân loại mới của tổ chức này đang được hoàn thiện và sẽ sử dụng INRGSS thay cho INSS.
Mô tả u nguyên bào thần kinh nguy cơ rất thấp, nguy cơ thấp, nguy cơ trung bình và nguy cơ cao dựa vào định nghĩa của INRGSS được liệt kê dưới đây:
Điều trị được điều chỉnh dựa vào mức nguy cơ. Hầu hết bệnh nhân có nguy cơ rất thấp hoặc thấp thường chỉ phẫu thuật đơn trị liệu. Thỉnh thoảng, trẻ nhũ nhi có khối u nhỏ khu trú không cần phẫu thuật mà vẫn ổn định qua quá trình theo dõi cẩn trọng.
Bệnh nhân có nguy cơ trung bình được chỉ định phẫu thuật và hóa trị. Theo Hiệp hội Ung thư trẻ em, hầu hết những thử nghiệm lâm sàng hoàn thành gần đây đối với nhóm nguy cơ trung bình cho thấy số vòng chu kỳ hóa trị được xác định dựa trên có hay không biến đổi gene trên nhiễm sắc thể 1p và 11q, mô bệnh học khối u, mức đa bội của khối u, giai đoạn và độ tuổi.
Tiếp cận chuyên sâu hơn, thường qua sử dụng nhiều phương pháp điều trị, được áp dụng với bệnh nhân có nguy cơ cao u nguyên bào thần kinh. Có thể tìm đọc nhiều thông tin hơn ở phần Các phương pháp điều trị.
Thông tin về giai đoạn và nhóm nguy cơ của ung thư sẽ giúp bác sĩ đề xuất kế hoạch điều trị cụ thể. Phần tiếp theo trong hướng dẫn này là Các phương pháp điều trị. Sử dụng menu để chọn một phần khác bạn muốn đọc trong hướng dẫn này.
https://www.cancer.net/cancer-types/neuroblastoma-childhood/stages-and-groups
Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…
Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…
Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…
Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…
Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…