Mang thai

Tính an toàn của các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong thời gian mang thai và cho con bú

Bài viết thứ 53 trong 65 bài thuộc chủ đề Các bài viết của Bác sĩ Lê Tiểu My

Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hỗ trợ rất nhiều cho việc khám và chữa bệnh của bác sĩ. Bác sĩ quan tâm đến chẩn đoán đúng, điều trị khỏi bệnh cho người bệnh. Nhưng điều mà các bà mẹ mang thai và cho con bú hay quan tâm lại là những ảnh hưởng có thể xảy ra cho em bé.

Có sai không khi cả hai không cùng mối quan tâm? Không, thật ra thì bác sĩ cũng luôn quan tâm đến tính an toàn của các phương pháp được chỉ định. Nhưng để trả lời mọi câu hỏi của bệnh nhân thì không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh

  1. Bạn có thể nghe: siêu âm, chụp X quang, cắt lớp điện toán (CT), cộng hưởng từ (MRI) và Y học hạt nhân. Nhóm có tia xạ: X quang, cắt lớp điện toán, Y học hạt nhân. Còn lại thuộc nhóm không dùng tia xạ.
  2. Phương pháp nào tốt nhất? Không có tốt nhất. Mỗi phương pháp có ưu điểm riêng, có giá trị riêng, có chỉ định riêng. Tuỳ điều kiện, khả năng của cơ sở y tế, tình trạng bệnh nhân,…bác sĩ sẽ chọn phương pháp thích hợp nhất có thể để chẩn đoán hay điều trị bệnh.
  • Siêu âm

Cho đến nay chưa có báo cáo nào ghi nhận siêu âm gây hại cho thai nhi hay ảnh hưởng đến sức khoẻ của mẹ và thai. Dù vậy, vẫn chỉ nên thực hiện đúng chỉ định, cần thiết. Bạn nên nhớ, Y học là ngành học luôn thay đổi và cập nhật. Mình không dám cam đoan 10 – 20 năm sau người ta vẫn phát biểu “siêu âm an toàn tuyệt đối cho thai và cho con người nói chung”.

  • Cộng hưởng từ (MRI)

MRI không sử dụng tia xạ nên không có chống chỉ định trên phụ nữ mang thai. Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng gây hại đến thai dù có vài giả thuyết có thể gây dị tật. Về nguy cơ dị tật, chưa có nghiên cứu trên người được công bố, trên động vật chưa thấy nguy cơ ảnh hưởng gia tăng.

Vấn đề quan tâm là sử dụng chất cản từ trong MRI. Để tăng chất lượng hình ảnh chẩn đoán, bác sĩ sẽ cho tiêm thuốc cản từ, ví dụ gadolinium. Gadolinium là chất tan trong nước, có thể qua nhau thai, vào tuần hoàn thai và dịch ối. Gadolinium tự do lại là chất độc. Nguy cơ và mức độ ảnh hưởng tuỳ thuộc vào thời gian tiếp xúc của thai nhi với gadolinium trong dịch ối. Tuy nhiên, một số thống kê nhỏ lại cho thấy nguy cơ ảnh hưởng thai nhi không gia tăng khi có sử dụng gadolinium trong 3 tháng đầu thai kỳ. Với những chứng cứ hiện có, người ta chỉ có thể khuyến cáo rằng: hạn chế chỉ định nếu lợi ích không nhiều hơn nguy cơ.

Đối với phụ nữ cho con bú, sau 24 giờ, không quá 0,04% liều gadolinium được dùng qua sữa. Thai hấp thụ không quá 1% của lượng này, do đó vẫn có thể cho con bú.

  • Các phương pháp có tia xạ

Trước đây, mình có tóm tắt lại thông tin qua bài X quang, giờ mình chỉ cập nhật thêm trên cắt lớp điện toán và Y học hạt nhân.
– Giai đoạn thai kỳ và liều có thể gây hại cho thai:
+ Trước khi làm tổ (0-2 tuần sau thụ tinh): chết phôi hay không thụ tinh: liều ngưỡng ước đoán 50-100mGY.
+ Giai đoạn biệt hoá cơ quan (2-8 tuần sau thụ tinh): dị tật bẩm sinh trên xương, mắt, giới tính: liều ngưỡng ước đoán: 200mGY; chậm tăng trưởng: 200-250 mGY.
+ Thai 8-15 tuần: chậm phát triển tâm thần: 60-310mGY. Tật đầu nhỏ: 200 mGY.
+ Thai 16-25 tuần: chậm phát triển tâm thần: 250-280 mGY.

Với chụp cắt lớp điện toán trên phụ nữ cho con bú, việc sử dụng chất cản quang trước đây cũng có khuyến cáo không cho con bú khi được tiêm. Tuy nhiên, hiện nay lại cho phép tiếp tục cho con bú vì lượng iod hấp thu vào đường tiêu hoá thai nhi rất thấp.

                                 Kĩ thuật hình ảnh y học
  • Tóm lại

  1. Siêu âm và MRI không tăng nguy cơ dị tật thai nhi, nhưng chỉ thực hiện khi có chỉ định và có lợi ích cho chẩn đoán.
  2. Liều tia xạ của các kỹ thuật CT thông thường rất thấp, thấp hơn liều có thể gây hại cho thai. Tuy nhiên không nên chỉ định rộng rãi, trừ khi siêu âm và MRI không thể giúp gì cho chẩn đoán.
  3. Hạn chế dùng gadolinium, chỉ dùng khi giúp ích hơn cho chẩn đoán.
  4. Có thể vẫn cho con bú nếu có sử dụng gadolinium.

Mình tóm lược những thông tin trên đây không nhằm mục đích thay thế tư vấn của bác sĩ đang khám và điều trị cho bạn. Vì mỗi bệnh nhân là một cá thể khác biệt, mỗi bệnh tật lại có tính phức tạp riêng, bệnh đi kèm riêng. Bạn chỉ nên đọc để hiểu thêm thông tin, có thể khi bác sĩ của bạn giải thích, bạn dễ tiếp thu hơn.

Bài này thật sự rất khó hiểu vì từ chuyên môn nhiều quá, nhưng mình vẫn mong có ích cho một số người thôi, mình không thể “bình dân hoá” từ ngữ hơn nữa.

Tài liệu tham khảo

Guidelines for diagnostic Imaging during pregnancy and lactation – ACOG committee opinion – Oct 2017.

BS. Lê Tiểu My và Quản lý sưu tầm

  • BS. Lê Tiểu My
  • Vì sức khỏe cộng đồng
  • Nơi làm việc: Khoa PS - KHHGĐ - Bệnh viện Đa Khoa Mỹ Đức - Thâm niên: IVFVH - 1 năm, IVFAS – 2 năm, IVFMK – 1 năm, IVFMD + Bệnh viện Mỹ Đức – 5 năm
  • Ngành: Đa khoa
  • Chuyên ngành: Sản phụ khoa - Lĩnh vực quan tâm nhiều nhất hiện nay: Chẩn đoán hình ảnh các bệnh lý liên quan vô sinh.
  • Quá trình đào tạo:
    • Đang theo học CKI CĐHA tại ĐHYD Thành phố Hồ Chí Minh – khoá 2016-2018
    • Siêu âm tim thai – BV Tâm Đức + ĐH Y Phạm Ngọc Thạch
    • Siêu âm tim và bệnh lý tim mạch – ĐH Y Phạm Ngọc Thạch
    • Siêu âm Sản phụ khoa
    • Khóa Assisted Reproductive Technique Course for Clinician – CRESH – National university Hospital of Singapore
    • Định hướng sản phụ khoa năm 2008
    • Bác sĩ đa khoa năm 2007

Chia sẻ
Đăng bởi
BS. Lê Tiểu My và Quản lý sưu tầm

Những bài viết gần đây

[TPHCM] LỚP TẬP HUẤN SƠ CẤP CỨU CHO NẠN NHÂN TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC

Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…

Cách đây 2 năm

Dấu hiệu nhận biết bệnh tiền tiểu đường (tiền đái tháo đường)

Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…

Cách đây 3 năm

Khi bạn bị vỡ ối non

Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…

Cách đây 3 năm

Đối phó với sinh non và trầm cảm sau sinh

Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…

Cách đây 3 năm

Thuốc giảm đau khi chuyển dạ và sinh nở

Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…

Cách đây 3 năm

Ngừa thai

Trong thập kỳ vừa qua, vẫn có 57% học sinh lớp 12 có quan hệ…

Cách đây 3 năm