Thông tin chung về Axit alpha-Lipoic
Nội dung chính
Thông báo với bác sỹ về bất kỳ thực phẩm chức năng hay thực phẩm bổ sung nào bạn đang dùng như thảo mộc, vitamin, khoáng chất và các bài thuốc cổ truyền. Điều này sẽ giúp nhân viên y tế quản lý việc chăm sóc và đảm bảo an toàn cho bạn.
Axit alpha-lipoic là một chất chống oxy hóa. Mặc dù có một số bằng chứng cho rằng nó có thể giúp điều trị các tình trạng liên quan đến bệnh tiểu đường, tuy nhiên vẫn cần thêm các nghiên cứu để chứng minh.
Axit alpha lipoic (ALA) là một hợp chất tự nhiên do cơ thể tự tổng hợp, hoạt động như một yếu tố hỗ trợ trong quá trình sản xuất năng lượng cho tế bào. Nó thường được nhắc đến và tiếp thị như một chất chống oxy hóa mạnh. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy ALA và chất chuyển hóa của nó, axit dihydrolipoic (DHLA), có thể hoạt động như tác nhân chelat kim loại, loại bỏ gốc tự do và bảo vệ tế bào cơ thể. Ngoài ra, DHLA có khả năng sửa chữa các tổn thương do quá trình oxy hóa và tái tạo các chất chống oxy hóa như vitamin C, vitamin E và glutathione.
Một số nghiên cứu trên người cho thấy ALA có thể giúp cải thiện chức năng gan, lượng đường trong máu và giảm tổn thương thần kinh do biến chứng của đái tháo đường. Tuy nhiên, vẫn cần thêm các nghiên cứu bổ sung để xác nhận tính an toàn và hiệu quả của hợp chất này.
Co giật và các tác dụng phụ nghiêm trọng khác đã được báo cáo khi dùng với liều cao.
Dùng ALA tương đối an toàn, tuy nhiên sử dụng liều cao có thể dẫn đến các tình trạng nghiêm trọng và cần có thêm bằng chứng về tính an toàn và hiệu quả của hoạt chất này. Bệnh nhân tiểu đường nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng ALA.
Axit 1,2-dithiolane-3-pentanoic
Axit alpha lipoic (ALA) là một cofactor nội sinh được tìm thấy trong các tế bào hoặc cũng có thể được bổ sung từ thức ăn. ALA đôi khi cũng được gọi là “chất chống oxy hóa phổ rộng” vì khả năng hòa tan trong cả nước và chất béo và có thể trung hòa các gốc oxy phản ứng. Vì lý do này, ALA bán trên thị trường dưới dạng thực phẩm chức năng, được sử dụng như một liệu pháp bổ trợ cho bệnh thần kinh và giúp cải thiện việc kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường. Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy ALA đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất năng lượng và có tác dụng chống oxy hóa và tác động lên quá trình chết theo chu trình của tế bào.
Các nghiên cứu về ALA ở người đã được tiến hành trên nhiều quần thể khác nhau. Dữ liệu ban đầu cho thấy việc bổ sung ALA lâu dài có thể giúp bảo tồn khả năng đi lại ở những bệnh nhân bị bệnh đa xơ cứng tiến triển thứ phát, đặc biệt là ở nhóm bệnh nhân ít khuyết tật hơn. Các nghiên cứu về sử dụng ALA đường tiêm tĩnh mạch và đường uống cho thấy có sự cải thiện độ nhạy insulin, giãn mạch và các triệu chứng của bệnh thần kinh trên bệnh nhân đái tháo đường, mặc dù trước đó có các kết quả khác nhau về vai trò của ALA trong phục hồi bệnh thần kinh và bệnh gan. Ở những phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ, ALA đường uống có thể cải thiện chức năng gan và chuyển hóa glucose. Các phân tích tổng hợp cũng cho thấy việc bổ sung ALA có thể làm giảm các chất trung gian gây viêm như CRP, IL-6, TNF-α và cải thiện một số chỉ số glucose và lipid, nhưng vẫn phải cần có thêm các nghiên cứu để chứng minh.
Trong các nghiên cứu sơ bộ khác, ALA giúp giảm cân nhẹ và giảm vòng eo ở những đối tượng thừa cân hoặc béo phì. ALA cũng cải thiện quá trình chữa lành vết thương và sẹo mổ lấy thai ở phụ nữ, bên cạnh đó là giúp giảm đau sau phẫu thuật hội chứng chèn ép dây thần kinh trong ống cổ tay. Ở bệnh nhân rung nhĩ, ALA làm giảm các dấu hiệu viêm trong huyết thanh, nhưng không có tác dụng đáng kể trong việc giảm tái phát rung nhĩ sau điều trị.
Mặc dù các dữ liệu hiện tại cho thấy tác dụng bảo vệ của chất chống oxy hóa chống lại bệnh Alzheimer, nhưng tác dụng tương tự không được phát hiện khi kết hợp coenzyme Q, vitamin C, vitamin E và ALA. Bôi tại chỗ với các loại kem có chứa ALA có thể giúp ngăn chặn sự lão hóa của da mặt.
Liều cao ALA có thể gây ra các triệu chứng hạ đường huyết, cũng như các tình trạng nghiêm trọng khác. Ngoài ra, do tác dụng chống oxy hóa của nó, ALA có thể đối kháng với tác dụng của hóa trị và xạ trị.
Nội tạng động vật, cải bó xôi, bông cải xanh, cà chua, đậu Hà Lan, bắp cải Brussels, cám gạo.
ALA hoạt động như một chất “thu dọn” gốc lipid tự do. Axit dihydrolipoic (DHLA), một dạng khử của ALA, có nhiều tác dụng chống oxy hóa hơn. Nó có thể hỗ trợ sửa chữa các tổn thương do oxy hóa và tái tạo các chất chống oxy hóa nội sinh như vitamin C, vitamin E và glutathione. Cả DHLA và ALA đều có khả năng chelat hóa kim loại. Là một lipoamide, ALA có chức năng như một cofactor trong các hệ thống phức hợp enzymekhác nhau liên quan đến quá trình khử carboxyl của các axit alpha-keto như pyruvate.
ALA tạo ra quá trình bắt giữ trong các pha G0 / G1 của chu trình tế bào trong các dòng tế bào khối u người FaDu và Jurkat. Nó cũng giúp loại bỏ các gốc oxy phản ứng (ROS) trong các tế bào ung thư vú MCF-7, từ đó giúp các tế bào này ngừng phát triển và chết theo chu trình. Trong một nghiên cứu khác, ALA gây chết tế bào ung thư đại trực tràng độc lập với tình trạng p53 của chúng và giúp tăng cường độc tính của 5-fluorouracil.
Ở những người khỏe mạnh và bệnh nhân đa xơ cứng tiến triển thứ phát, ALA dường như kích thích sản xuất cAMP. Ở những bệnh nhân bị bệnh nặng, ALA làm giảm stress oxy hóa và cải thiện tình trạng kháng insulin.
Các bác sĩ lâm sàng nên lưu ý rằng ALA thường được sử dụng vì đặc tính chống oxy hóa của nó và có thể gây hạ đường huyết tự miễn ở những người có đặc điểm di truyền, đặc biệt là những người có alen HLADRB1 * 04: 03 hoặc HLADRB1 * 04: 06.
Hạ đường huyết; buồn nôn, nôn.
Hội chứng insulin tự miễn: Một phụ nữ sử dụng ALA để chữa đau khớp đã báo cáo tình trạng hạ đường huyết tự phát. Hội chứng này có liên quan đến một số alen HLA, một trong số đó đã được xác định ở bệnh nhân này. Nhìn chung, khoảng 27 trường hợp như vậy đã được báo cáo, chủ yếu ở Nhật Bản và một số ở Ý.
Suy đa tạng: Tình trạng suy đa tạng đã được ghi nhận ở một phụ nữ 70 tuổi, một phần do sai sót trong kê đơn dẫn đến liều ALA cao không phù hợp.
Co giật ở trẻ em: Gây ra do trẻ vô tình tiếp cận với axit alpha lipoic. Người lớn có thể coi ALA chỉ là một chất bổ sung, nhưng khi trẻ em vô tình uống hay nuốt phải có thể gây say, co giật và các tình trạng nghiêm trọng khác.
Thuốc hạ đường huyết: ALA có thể tạo ra tác dụng hiệp đồng.
https://www.mskcc.org/cancer-care/integrative-medicine/herbs/alpha-lipoic-acid
Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…
Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…
Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…
Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…
Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…