Nội dung chính
Alpha-1 antitrypsin (A1AT) là một loại protein do tế bào gan sản xuất. A1AT di chuyển từ gan vào máu và có thể đi đến phổi. Chức năng của A1AT là nhằm bảo vệ phổi không bị tổn thương bởi các loại men (enzyme) khác. Trong điều kiện bình thường, các men cần thiết cho sự hoạt động và phát triển bình thường của cơ thể. Trong phổi, một vài loại men – gọi là proteases – giúp chống lại nhiễm trùng bằng cách loại bỏ vi khuẩn, và được phóng thích nhằm bảo vệ phổi khỏi tổn thương gây ra do khói thuốc lá. Tuy nhiên, hoạt động của các proteases cần phải được cân bằng. Nếu tình trạng cân bằng mất đi và các men hoạt động quá mức, phổi có thể bị tổn thương. A1AT giúp cân bằng các proteases trong phổi và ngăn chặn tổn thương phổi.
Bệnh thiếu men A1AT là một bệnh lý di truyền, có thể được truyền từ cha mẹ sang con cái thông qua gene. Bệnh có thể dẫn đến tổn thương ở phổi và gan. Triệu chứng tại phổi thường gặp nhất, bao gồm khó thở, ho và khò khè. Các triệu chứng có thể xấu đi theo thời gian. Tuy nhiên, hiện nay bệnh vẫn chưa có cách điều trị, các phương pháp hiện tại chỉ giúp làm chậm tiến triển bệnh. Bệnh được mô tả lần đầu tiên vào năm 1963 bởi bác sĩ Sten Eriksson, một bác sĩ người Đan Mạch.
Trong nhân của tế bào có 46 nhiễm sắc thể, tạo thành 23 cặp nhiễm sắc thể (NST). Một cặp NST được cấu thành từ một NST di truyền từ cha và một NST di truyền từ mẹ. NST được cấu tạo từ acid deoxyribonucleic (DNA). Một chuỗi (hoặc mảnh) của DNA tạo thành gene – đơn vị cơ bản của vật chất di truyền. Các gene được sắp xếp tại một vị trí đặc biệt trên NST. Gene là một phần nhỏ của một NST, mỗi gene điều khiển một tính năng đặc biệt hoặc có một chức năng cụ thể trong cơ thể.
Bệnh thiếu A1AT gây ra do một khiếm khuyết trên NST số 14, tạo ra men A1AT bất thường. A1AT bất thường bị tắc nghẽn trong gan, và không thể vận chuyển vào mạch máu hay phổi. A1AT ở phổi bị giảm sút, gây mất cân bằng men protease và khiến phổi bị tổn thương do các men. Thành túi khí (phế nang) bị phá hủy bởi các men, gây ra tình trạng khí phế thũng. Bình thường, khi chúng ta hít thở, phế nang được cung cấp máu và oxy đầy đủ, hỗ trợ vận chuyển khí từ phế nang vào mạch máu. Trong bệnh khí phế thũng, các phế nang bị phá hủy, cản trở quá trình vận chuyển oxy.
Bệnh khí phế thũng thuộc nhóm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). COPD bao gồm 2 dạng bệnh: viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng. Bệnh nhân bị COPD có thể bị viêm phế quản, hoặc khí phế thũng, hoặc cả hai.
Ở một số người, men A1AT bất thường bị tắc nghẽn ở gan có thể gây tổn hại tế bào gan, tạo mô sẹo ở gan. Tuy nhiên, triệu chứng tại gan chỉ gặp ở một số bệnh nhân thiếu men A1AT, nguyên nhân vẫn chưa được hiểu rõ.
Bệnh nhân biểu hiện bệnh thiếu men A1AT khi bệnh nhân cùng nhận hai NST 14 bất thường từ cả cha lẫn mẹ.
Nếu một người chỉ nhận một NST bất thường từ bố hoặc mẹ, người đó sẽ không biểu hiện bệnh thiếu men A1AT, họ vẫn có đủ A1AT để bảo vệ phổi không bị tổn thương. Thay vào đó, họ sẽ được gọi là “người lành mang bệnh”, và có thể truyền lại gene gây bệnh cho thế hệ sau. Các bằng chứng gần đây cho thấy người lành mang bệnh có kèm theo tăng nguy cơ mắc bệnh gan và hô hấp.
Có nhiều biến thể của gene A1AT bất thường. Một số bất thường gene sẽ gây nên tình trạng bệnh lý trầm trọng hơn những bất thường khác, liên quan đến lượng A1AT bình thường mà cơ thể bệnh nhân có thể tạo ra. Chỉ những người với hàm lượng A1AT thấp nhất trong máu sẽ biểu hiện triệu chứng. Phenotype test – xét nghiệm kiểu hình gene gây bệnh có thể cho thấy loại bất thường gene mà bệnh nhân mắc phải. Loại gene gây bệnh được ký hiệu như là gene Z, những bệnh nhân mang hai gene Z (kiểu hình ZZ) sản xuất được men A1AT ít nhất, và do đó bị ảnh hưởng trầm trọng nhất.
Bệnh thiếu hụt A1AT là một trong số các bệnh lý di truyền phổ biến nhất tại Anh. Tần suất mắc bệnh là 1 trong số 3.000 đến 5.000 người. Cứ 30 người thì sẽ có 1 người mang gene gây bệnh A1AT.
Bệnh thiếu men A1AT có nhiều biến thể di truyền, vì vậy, bệnh nhân thiếu men A1AT có thể có nhiều triệu chứng đa dạng. Một số bệnh nhân thiếu men A1AT có thể có rất ít hoặc không có triệu chứng, trong khi một số lại có triệu chứng trầm trọng. Tương tự, một số bệnh nhân mang kiểu gene gây bệnh A1AT khiến cho triệu chứng tiến triển nhanh hơn. Một số bệnh nhân có thể biểu hiện triệu chứng ở phổi, hoặc gan, hoặc cả hai.
Trẻ sơ sinh bị thiếu men A1AT hiếm khi biểu hiện vàng da (trẻ vàng da nhưng không vàng mắt), và viêm gan sau khi sinh. Nguyên nhân có thể do một lượng men A1AT tích tụ tại gan trẻ trong giai đoạn bào thai. Trong đa số các trường hợp, trẻ lớn lên mà không có vấn đề về gan, do đó, cho đến tuổi dậy thì, trẻ có thể chỉ có bất thường nhẹ về gan. Tuy nhiên, trong một số hiếm trường hợp, trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ có thể biểu hiện suy tế bào gan.
Ở người lớn, một số bệnh nhân thiếu men A1AT có thể có hội chứng suy tế bào gan nhẹ. Một số ít bệnh nhân tiến triển hội chứng suy tế bào gan nặng, gây nên bệnh xơ gan hoặc bệnh lý gan mạn tính.
Bệnh thiếu men A1AT thường được di truyền trong gia đình, do đó khi một bệnh nhân được chẩn đoán thiếu men A1AT, các thành viên khác trong gia đình nên được tầm soát bệnh.
Một số xét nghiệm khác giúp chẩn đoán độ nặng của bệnh, thường được đề nghị lặp lại sau một khoảng thời gian để theo dõi tiến triển của bệnh, bao gồm:
Hiện tại vẫn chưa có phương pháp điều trị cho bệnh thiếu men A1AT. Đa phần bệnh nhân được chẩn đoán ra bệnh sau khi đã biểu hiện các triệu chứng tại phổi và gan. Trong trường hợp đó, việc điều trị chỉ nhằm làm giới hạn tiến triển của bệnh.
Ở những bệnh nhân có kèm khí phế thũng, việc điều trị tương tự như điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) dù nguyên nhân không phải do thiếu men A1AT.
Việc điều trị cho bệnh thiếu men A1AT có thể bao gồm:
Tiên lượng thay đổi tùy thuộc vào độ nặng các triệu chứng, và tùy theo mỗi người, một số người sẽ có diễn tiến bệnh nhanh hơn những người khác. Một số bệnh nhân thiếu hụt men A1AT có thể chỉ khò khè, khó thở nhẹ vào khoảng 70 tuổi, trong khi một số khác có thể có các bệnh lý phổi trầm trọng vào khoảng 20 hoặc 30 tuổi.
Mặc dầu hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị cho bệnh thiếu men A1AT, việc chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp làm giảm mức độ tiến triển của bệnh. Nhờ việc theo dõi định kỳ và quản lý cẩn thận tình trạng bệnh, nhiều bệnh nhân thiếu men A1AT có thể vẫn sống khỏe mạnh.
http://patient.info/health/alpha-1-antitrypsin-deficiency-leaflet
Trong 10 năm qua, đuối nước là nguyên nhân gây tử vong của hơn 2,5…
Tiền tiểu đường là một tình trạng sức khỏe nghiêm trọng khi lượng đường trong…
Thông tin này dành cho bạn nếu bạn nghi ngờ hoặc đã được chẩn đoán…
Leila kể lại những trải nghiệm của mình với hai lần mang thai đầy thử…
Biên dịch: Tăng Huỳnh Thanh Hà Hiệu đính: BS. Phạm Hồng Vân Giảm đau vùng…